Kiểm chứng thông tin là quan trọng

Kiểm chứng thông tin là quan trọng

Luôn có một nút thắt…

Đó là việc không kiểm chứng!

Nhiều người tin vào những hướng dẫn hoạt ngôn của một số “expert” dẫn đến sự sai lầm về kiến thức nghiêm trọng. Điều này đôi khi khiến bạn mất một vài năm sau mới có thể cải thiện lại được tư duy đúng (tôi tạm gọi là nhận ra điều đúng đắn).

Trong một bài đăng trên blog, tôi đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc kiểm chứng thông tin, bởi vì khi mình tin tưởng vào điều gì đó, nó là khó khăn để quay đầu.

Social media marketing không chỉ là việc bạn thiết lập một chiến dịch Facebook Ads, nó cần nhiều hiểu biết và kỹ năng hơn.

Email marketing không chỉ là việc bạn tạo ra một nội dung trên phần mềm và nhấp nút gửi đến danh sách của bạn.

Content marketing không chỉ là việc bạn tạo ra một bài đăng đơn thuần trên blog, nó nhạt nhẽo.

Rào cản đến từ chính mỗi cá nhân, lười tìm hiểu và hệ thống hóa kiến thức là nguyên nhân chính làm chúng ta lạc hậu.

Kiểm chứng thông tin lúc này là đơn giản, khi bạn đang có mọi thứ hỗ trợ, đặc biệt là internet.

Tôi thường sử dụng Google Translate để dịch qua nhiều ngôn ngữ khác nhau để xem xem các nguồn thông tin mình từng tiếp nhận có đúng đắn và logic hay không. Có thể là mơ hồ nhưng điều đó thực sự sẽ giúp bạn gây dựng được một nền móng về tư duy hay góc nhìn vững chắc.

Rõ ràng hơn bao giờ hết, người nào kiên trì và giữ tần suất, người đó sẽ chiến thắng trong hành trình tri thức.

Lưu giữ tư duy đúng đắn

Lưu giữ tư duy đúng đắn

Dù bạn làm ở công ty nhỏ hay công ty lớn, bạn vẫn là một nhà tiếp thị.

Tôi nhắc lại, bạn vẫn là một nhà tiếp thị.

Bởi vậy, chúng ta cần luôn giữ cho mình một sự nhất quán, học mọi thứ từ xung quanh. Đó có thể bao gồm bạn bè, đồng nghiệp, sách, internet,… và cả từ khách hàng của chúng ta.

Nuôi dưỡng một quan điểm rõ ràng, tìm kiếm sự đúng đắn về kiến thức và tư duy.

Những điều tốt đẹp luôn ở phía sau!

So sánh chỉ số quảng cáo với người khác không giúp bạn tối ưu hóa lợi nhuận

So sánh với người khác không giúp bạn tối ưu hóa

Cách để biết một chỉ số tốt không phải là việc bạn đi hỏi những người khác về dữ liệu của họ và suy luận.

Đôi lúc bạn sẽ cảm thấy vui khi CPC (cost per conversion) của bạn thấp hơn họ. Nhưng sự so sánh khập khiễng có thể khiến bạn bị hoang mang nếu một vài chỉ số của bạn không ấn tượng.

Một chiến dịch quảng cáo đạt kết quả tốt là một chiến dịch giúp bạn có lợi nhuận (profitable). Điều này dựa trên cán cân tài chính mà ranh giới của nó là điểm hòa vốn, tức nút giao giữa lãi và lỗ.

Nếu chiến dịch quảng cáo trực tuyến (như Facebook Ads) của bạn đang chưa có lợi nhuận thì đó là lúc bạn nên xem xét lại từng yếu tố cấu thành nên chiến dịch của bạn như nội dung hay nhắm mục tiêu.

Để tối ưu hóa lợi nhuận và tăng quy mô, bạn cần phải liên tục tiến hành chạy thử nghiệm phân tách (split testing) hay còn gọi là A/B testing. Nó giúp bạn khám phá các giải pháp hiệu quả tốt nhất và sử dụng tối ưu ngân sách quảng cáo của bạn.

Đừng lo lắng, chúng ta không thể chắc chắn rằng tất cả các chiến dịch quảng cáo đều tốt, một số lúc nó sẽ có lỗi. Điều quan trọng là tìm hiểu nguyên nhân và cải thiện nó thông qua những con số, dữ liệu kết hợp với suy luận logic trong trường hợp của chính mình.

BJ Fogg Behavior Model - Mô hình hành vi Fogg

Động lực, Khả năng, Kích hoạt

Bất cứ hành động, quyết định hay lựa chọn nào của chúng ta đều bị chi phối bởi cảm xúc và lý trí, đôi khi là phi lý trí.

Để một hành vi xảy ra trong một cá nhân cần ba yếu tố hội tụ cùng một lúc: động lực (motivation), có khả năng (ability) và trình kích hoạt (trigger).

Đó là kết quả nghiên cứu của BJ Fogg (giáo sư Đại học Stanford), ông đặt tên cho mô hình của mình là Fogg Behavior Model.

Mô hình hành vi Fogg - Fogg Behavior Model

Trong mô hình hành vi Fogg, động lực (motivation) đóng vai trò là người điều khiển chính để thuyết phục và nhắc nhở một phản ứng mong muốn. Nó có thể được xem là nền tảng cảm xúc tạo ra mong muốn cho người dùng tiếp tục hành động.

When motivation is high, you can get people to do hard things. But once it drops (the wave subsides, then people will only do easy things). — BJ Fogg.

Tạm dịch: Khi động lực cao, bạn có thể khiến mọi người làm những việc khó khăn. Nhưng một khi nó giảm xuống (sóng giảm dần, thì mọi người sẽ chỉ làm những việc dễ dàng).

Yếu tố thứ hai là khả năng (ability). Nó được xác định rõ ràng hơn động lực bởi các khái niệm dễ hiểu như khả năng chi trả hoặc sự cần thiết. Đây là lúc người dùng xem xét mối tương quan giữa năng lực bản thân và mục tiêu thực tế.

By focusing on Simplicity of the target behavior you increase Ability. — BJ Fogg.

Tạm dịch: Bằng cách tập trung vào Tính đơn giản của hành vi mục tiêu, bạn tăng Khả năng.

Trình kích hoạt (trigger) là yếu tố được xác định rõ ràng nhất trong ba yếu tố chính. Được cá nhân hóa tùy theo ngữ cảnh bằng một lời kêu gọi hành động, một gợi ý hoặc một yêu cầu,… trình kích hoạt là thứ cuối cùng thúc đẩy người dùng hành động.

Sự tin tưởng thúc đẩy thương hiệu

Sự tin tưởng thúc đẩy thương hiệu

Marketing, marketing, marketing.

Chúng ta nói về nó mỗi ngày, nhưng nhiều người vẫn đang loay hoay tìm câu trả lời cho “tại sao?”.

Marketing là câu chuyện bạn kể, bạn đang kể cho ai và tại sao mọi người sẽ mua sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn.

Bạn cung cấp một sản phẩm, bạn cũng có một website, và bạn sử dụng các phương tiện truyền thông để quảng bá và mong mọi người quan tâm rồi mua sản phẩm của bạn.

Các nhà tiếp thị hiện đại đủ thông minh sẽ khéo léo sử dụng inbound marketing kết hợp với các phương tiện truyền thông trả phí để “kể chuyện” nhằm tạo ra sự tin tưởng (trust), sự chú ý (attention) và kết nối (connections) với người dùng. Từ đó, tìm kiếm được khách hàng tiềm năng.

Một số nhà tiếp thị khác thì giữ quan điểm cũ rằng, chỉ cần thúc đẩy quảng bá, hiển thị sản phẩm hay thương hiệu nhiều lần và sau đó, khách hàng sẽ tự đến vì họ nhớ đến thương hiệu của mình. Tôi không có bình luận gì về quan điểm này nhưng hãy xem xét tính hiệu quả.

“Bạn cần xác định những gì làm cho mọi thứ tốt hơn cho khách hàng mà bạn phục vụ. Nếu bạn đặt ra ý định đó, nó sẽ biến thành một lời hứa, biến thành một thương hiệu quan trọng.” — Seth Godin.

Tiếp thị trải nghiệm (experiential marketing)

Tiếp thị trải nghiệm

Bạn có tò mò khi nhân viên ẩm thực tại siêu thị mời bạn thưởng thức món ăn được chế biến từ sản phẩm của họ?

Tại sao họ làm vậy?

Khuyến khích khách hàng dùng thử sản phẩm là một ví dụ điển hình để đề cập về loại hình marketing này.

Tiếp thị trải nghiệm (experiential marketing), hoặc tiếp thị gắn kết (engagement marketing), là một chiến thuật nhằm giúp các thương hiệu tương tác trực tiếp với đối tượng mục tiêu và tạo ra trải nghiệm mạnh mẽ từ khách hàng đến thương hiệu (customer-to-brand).

Miller Beer là một trong những công ty đầu tiên sử dụng tiếp thị trải nghiệm mà chúng ta được biết đến.

Họ đã sử dụng chương trình MGD Blind Date của thập niên 1970, kết hợp khuyến mãi các buổi hòa nhạc và Miller Lite Taste Challenge để đưa thương hiệu vào cuộc sống của các nhân khẩu học khác nhau.

Một số chiến dịch thành công như IKEA BIG Sleepover cho thấy, tiếp thị trải nghiệm cũng là cách mở rộng, tạo điều kiện cho mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng với thương hiệu, thay vì mua sản phẩm hoặc dịch vụ một lần.

Những người tham gia không chỉ được truyền cảm hứng để trở thành khách hàng. Bằng cách chia sẻ trải nghiệm đáng nhớ của họ với những người khác, họ sẽ trở thành đại sứ thương hiệu.

Theo McKinsey, truyền miệng trải nghiệm (experiential word-of-mouth) là hình thức phổ biến và mạnh mẽ nhất, thường chiếm từ 50% đến 80% hoạt động truyền miệng trong bất kỳ danh mục sản phẩm nào.

Điều này xuất hiện khi trải nghiệm của khách hàng diễn ra ngoài mong đợi, bao gồm trải nghiệm tuyệt vời (như được thưởng thức một món ăn ngon) và trải nghiệm tệ (như bị hãng hàng không chậm trễ thời gian cất cánh).

Trong cuốn sách xuất bản năm 1999, The Experience Economy, các tác giả đã trình bày một sự hiểu biết mạch lạc hơn về tiếp thị trải nghiệm.

Cảm xúc hạ gục lý trí trong mua sắm

Cảm xúc hạ gục lý trí trong mua sắm

Nhiều lần đi trong siêu thị hoặc bị quảng cáo của các trang web thương mại điện tử nhắm tới, tôi đã không thể tin vào chính những quyết định của mình. Cảm xúc mua sắm đã thúc đẩy hành vi của chúng ta một cách kỳ lạ.

Mọi người dễ dàng bị tác động bởi một số ảnh hưởng bên ngoài dẫn đến việc kích hoạt chi tiêu của bản thân.

Đó có thể là khi bạn nhìn vào các sản phẩm thú vị có mức giá tương đối thấp được đặt ở gần quầy thanh toán. Hoặc vô tình thấy người mua khác đang cầm trên tay một sản phẩm hấp dẫn.

Chi tiêu cảm xúc thường xảy ra khi bạn mua thứ gì đó mà bạn không cần và trong một số trường hợp không thực sự muốn, do cảm thấy căng thẳng, buồn chán, bị đánh giá thấp hoặc bất kỳ cảm xúc nào khác.

“In the same way that we use food for emotional reasons, we use buying things to fill something that we can’t quite name.” – Geneen Roth, trong một cuộc phỏng vấn với Time.

Tạm dịch: Giống như cách chúng ta sử dụng thực phẩm vì lý do tình cảm, chúng ta sử dụng mua sắm để lấp đầy một thứ gì đó mà chúng ta không thể đặt tên.

Trao quyền cho nhân viên (empower employees)

Trao quyền cho nhân viên

Chìa khóa cho một nhân viên hạnh phúc và năng suất là đảm bảo rằng họ cảm thấy quan trọng trong vai trò của họ.

Trên thực tế, các nhà lãnh đạo dường như thiếu quan tâm đến điều này. Đó là lý do khiến nhân viên của họ đang làm việc như những cỗ máy chỉ biết vâng lời, thiếu sáng tạo và bị động.

Không biết cách truyền cảm hứng và trao quyền là nguyên nhân làm cho các nhà lãnh đạo luôn gặp vấn đề trong công việc quản lý doanh nghiệp.

Trao quyền cho nhân viên khác với việc bạn đưa ra yêu cầu hoặc liên tục nói với nhân viên cách làm một cái gì đó, hãy thử nói ít hơn và quan sát nhiều hơn.

Đó là quá trình đặt niềm tin mạnh mẽ vào nhân viên của bạn, truyền đạt một tầm nhìn hoặc kỳ vọng rõ ràng, đánh giá cao những nỗ lực của họ. Trong trường hợp kết quả chưa đạt kỳ vọng, bạn nên khuyến khích để họ tự cải thiện, cho họ thêm thời gian cũng như cung cấp các nguồn lực cần thiết.

Có quá nhiều nhà lãnh đạo muốn trở thành người thông minh nhất trong công ty. Tuy nhiên, nếu như bạn không đặt cái tôi của bạn sang một bên, không chịu chấp nhận các ý tưởng mới và đưa ra phản hồi mang tính xây dựng thì theo một cách nào đó, bạn đang tự đánh mất đi sự sáng tạo trong tổ chức của mình.

Cuối cùng, đừng lạm dụng việc trao quyền bởi nó có giới hạn của nó. Hầu hết nó sẽ hoạt động nhưng đôi khi lại không, vì nó cũng có thể tạo thêm gánh nặng và căng thẳng làm ảnh hưởng đến hiệu suất thường xuyên của nhân viên.

Hãy cân nhắc!

Quảng cáo trực tuyến (online advertising) rẻ hơn quảng cáo ngoại tuyến (offline advertising)

Tại sao quảng cáo trực tuyến rẻ hơn?

Tôi không muốn đề cập “rẻ hơn” khi nói đến tính hiệu quả bởi vì có quá nhiều sự mập mờ trong đo lường quảng cáo ngoại tuyến.

Trở lại với chủ đề, tất nhiên mọi người đều biết, quảng cáo trực tuyến rẻ hơn quảng cáo ngoại tuyến. Hay ít nhất, nó có thể bắt đầu với chi phí thấp hơn nhiều so với quảng cáo ngoại tuyến.

Có phải bạn đang nghĩ, thuê biển bảng, làm TVC hay quảng cáo trên truyền hình,… luôn ẩn chứa các khoản chi phí đắt đỏ?

Tôi hoàn toàn đồng tình với suy nghĩ của bạn. Nhưng một vài khía cạnh mà tôi đề cập phía dưới sẽ làm rõ nét hơn lý do tại sao quảng cáo trực tuyến rẻ hơn, theo cách mà nó hoạt động.

Chi phí cơ hội: Khi sử dụng quảng cáo ngoại tuyến, bạn thường phải tốn một khoản đầu tư khá lớn ban đầu như tiền sản xuất TVC, tiền trả nhà đài, tiền thuê bảng quảng cáo,… Điều này dễ dàng ảnh hưởng đến dòng tiền hoạt động.

Khi sử dụng quảng cáo trực tuyến, bạn có một cơ hội tốt hơn để quay vòng dòng tiền.

Đúng người dùng: Với sự phát triển của công nghệ, các nền tảng quảng cáo trực tuyến mạnh mẽ như Facebook Ads hay Google Ads có thể giúp bạn hiển thị nội dung cho đúng người dùng.

Trong khi đó, quảng cáo ngoại tuyến được hiển thị cho tất cả người dùng, dù họ có liên quan hoặc không. Điều này dẫn đến sự lãng phí không hề rẻ.

Xử lý thay đổi: Thời gian luôn là một hạn chế. Thật không dễ dàng và cần có thời gian để thực hiện bất kỳ thay đổi nào cho quảng cáo ngoại tuyến.

Ngược lại, quảng cáo trực tuyến có thể tùy chỉnh bất cứ khi nào cần thiết. Xử lý thay đổi nhanh hơn đồng nghĩa với việc bạn tránh được nhiều lãng phí hơn.

Cuối cùng, đừng hiểu nhầm. Tôi sẽ không nói rằng, quảng cáo trực tuyến là tốt hơn bởi việc sử dụng loại phương tiện quảng cáo nào sẽ phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh cần đến nó.

Tại sao nên tránh bình luận - Phạm Đình Quân

Tại sao bạn nên tránh bình luận?

Nhiều người làm việc chăm chỉ và nổi tiếng mà tôi được biết đến, trong đó bao gồm Seth Godin, Gary Vaynerchuk, Malcolm Gladwell.

Điều tôi thấy, họ rất ít khi hoặc không bao giờ tham gia vào các bình luận công khai của mọi người, từ blog cá nhân đến mạng xã hội.

Bạn có thể nói rằng, đó là sự thiếu tôn trọng tối thiểu. Tại sao họ không tương tác lại với người hâm mộ hay độc giả trung thành?

Là một người làm việc hiệu quả, Seth Godin muốn tránh những cơn gió vô hồn, giận dữ hoặc chuyện vặt mà bình luận có thể mang đến.

Bởi vì những lời tán dương và tranh luận có thể dễ dàng biến thành một vòng xoáy mà chúng ta vô hình chung bị cuốn vào. Nó khiến bạn bị phân tâm và lãng phí thời gian của bạn.

Chúng ta nên đọc bình luận của mọi người để bổ sung góc nhìn và làm rõ nét quan điểm của bản thân. Nhưng theo một cách nào đó, tốt hơn hết là bạn nên tránh tham gia vào các bình luận không thực sự cần thiết.

Suy cho cùng, bình luận là một cơ hội để bạn luôn bận rộn trong khi bạn không thực sự làm gì.